1. Nguyên tắc trách nhiệm liên đới của nhà thầu liên danh
Theo các mẫu hợp đồng xây dựng, trong đó có mẫu hợp đồng EPC ban hành kèm Quyết định số 1040/QĐ-BXD, trách nhiệm của các thành viên liên danh được xác định theo nguyên tắc riêng rẽ và liên đới.
Điều 3.5 Phần 3 – Điều kiện chung quy định hợp đồng ràng buộc trách nhiệm riêng rẽ và liên đới của mỗi thành viên trong liên danh.
Điều này có nghĩa, về nguyên tắc, các nghĩa vụ của “Nhà thầu” đối với Chủ đầu tư, trong đó có nghĩa vụ liên quan đến hoàn trả tiền tạm ứng, có thể gắn với trách nhiệm của liên danh theo nội dung hợp đồng đã ký.
Nếu một thành viên không hoàn thành nghĩa vụ, việc xác định trách nhiệm của thành viên còn lại phải xem xét đồng thời hợp đồng, thỏa thuận liên danh và phạm vi bảo lãnh đã phát hành.
2. Thu hồi vốn tạm ứng đối với nhà thầu liên danh
Theo điểm a khoản 5 Điều 9 Nghị định số 254/2025/NĐ-CP, việc thu hồi vốn tạm ứng được thực hiện theo quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư công.
Trong điều kiện thực hiện hợp đồng bình thường, vốn tạm ứng phải được thu hồi theo tiến độ thanh toán và bảo đảm thu hồi theo giới hạn quy định đối với phần giá trị hợp đồng tương ứng.
Đối với nhà thầu liên danh, cần đặc biệt xác định:
● Tiền tạm ứng được chuyển chung cho liên danh hay chuyển trực tiếp cho từng thành viên.
● Giá trị tạm ứng tương ứng với phần công việc của từng thành viên.
● Chủ thể phát hành từng bảo lãnh tạm ứng.
● Phạm vi nghĩa vụ được bảo lãnh.
● Trách nhiệm liên đới được quy định như thế nào trong hợp đồng và thỏa thuận liên danh.
Đây là những căn cứ trực tiếp để xác định Chủ đầu tư có thể thu hồi đến đâu khi một thành viên không hoàn trả đủ tiền tạm ứng.
3. Có được thu hồi bảo lãnh tạm ứng của thành viên thứ hai?
Về nguyên tắc, Chủ đầu tư có cơ sở yêu cầu thực hiện nghĩa vụ liên quan đến khoản tạm ứng chưa được hoàn trả nếu hợp đồng xác lập trách nhiệm liên đới của các thành viên liên danh.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ trách nhiệm liên đới theo hợp đồng với phạm vi nghĩa vụ của từng thư bảo lãnh tạm ứng.
Không nên hiểu rằng cứ có trách nhiệm liên đới thì Chủ đầu tư đương nhiên được yêu cầu ngân hàng thanh toán từ bất kỳ bảo lãnh nào của thành viên còn lại.
Muốn thu hồi thông qua bảo lãnh của thành viên thứ hai phải kiểm tra chính xác nội dung thư bảo lãnh:
● Bảo lãnh cho nghĩa vụ của riêng thành viên thứ hai hay của toàn bộ liên danh?
● Số tiền bảo lãnh tối đa là bao nhiêu?
● Điều kiện để Chủ đầu tư yêu cầu ngân hàng thanh toán là gì?
● Bảo lãnh còn hiệu lực hay không?
● Khoản tiền thành viên thứ nhất chưa hoàn trả có nằm trong phạm vi nghĩa vụ được bảo lãnh hay không?
Nếu bảo lãnh chỉ bảo đảm khoản tạm ứng riêng của thành viên thứ hai thì việc dùng bảo lãnh đó để thu hồi khoản nợ thuộc phần tạm ứng của thành viên thứ nhất cần được xem xét rất thận trọng.
4. Khi tạm ứng quá hạn chưa được hoàn trả
Theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 254/2025/NĐ-CP, khi vốn tạm ứng thuộc trường hợp phải thu hồi nhưng nhà thầu chưa hoàn trả đầy đủ, Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức thu hồi theo quy định.
Trường hợp đáp ứng điều kiện của bảo lãnh, Chủ đầu tư có thể gửi yêu cầu đến tổ chức tín dụng phát hành bảo lãnh để thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền tạm ứng.
Điểm quan trọng là việc yêu cầu thanh toán bảo lãnh phải đúng chủ thể, đúng số tiền, đúng nghĩa vụ và đúng điều kiện của thư bảo lãnh.
Do đó, không nên chỉ căn cứ vào số tiền liên danh còn nợ để yêu cầu ngân hàng thanh toán mà phải đối chiếu với từng bảo lãnh cụ thể.
5. Cần kiểm tra Thỏa thuận liên danh và hợp đồng trước khi xử lý
Đối với trường hợp có hai hoặc nhiều thành viên liên danh, Chủ đầu tư nên kiểm tra đồng thời 04 nhóm hồ sơ:
Thứ nhất, Thỏa thuận liên danh: Xác định phạm vi công việc, tỷ lệ giá trị và trách nhiệm của từng thành viên.
Thứ hai, Hợp đồng xây dựng: Xác định nghĩa vụ liên đới của các thành viên và cơ chế tạm ứng, thu hồi tạm ứng.
Thứ ba, chứng từ tạm ứng: Xác định tiền thực tế đã được chuyển cho liên danh hay từng thành viên và số tiền mỗi thành viên đã nhận.
Thứ tư, từng thư bảo lãnh tạm ứng: Đây là căn cứ đặc biệt quan trọng để xác định ngân hàng phải trả tiền trong trường hợp nào.
6. Tranh chấp nội bộ liên danh không làm mất nghĩa vụ với Chủ đầu tư
Nếu hợp đồng xác lập trách nhiệm liên đới thì việc phân chia trách nhiệm nội bộ giữa các thành viên liên danh về nguyên tắc không được làm ảnh hưởng đến quyền của Chủ đầu tư theo hợp đồng.
Sau khi thực hiện nghĩa vụ với Chủ đầu tư, các thành viên có thể giải quyết trách nhiệm tài chính giữa họ theo Thỏa thuận liên danh và các thỏa thuận nội bộ.
Tuy nhiên, quyền yêu cầu ngân hàng thực hiện một bảo lãnh vẫn phải nằm trong đúng phạm vi cam kết của chính thư bảo lãnh đó.
7. Kết luận
Chủ đầu tư có cơ sở yêu cầu liên danh hoàn trả đầy đủ khoản tiền tạm ứng còn thiếu nếu hợp đồng quy định trách nhiệm liên đới.
Tuy nhiên, việc thu hồi trực tiếp bảo lãnh tạm ứng của thành viên thứ hai để bù khoản thành viên thứ nhất chưa hoàn trả không phải lúc nào cũng tự động được thực hiện.
Cần kiểm tra đồng thời:
● Hợp đồng xây dựng.
● Thỏa thuận liên danh.
● Cơ chế phân chia và thanh toán tiền tạm ứng.
● Nội dung từng thư bảo lãnh tạm ứng.
● Phạm vi trách nhiệm liên đới của từng thành viên.
Điểm mấu chốt là: trách nhiệm liên đới của liên danh và phạm vi bảo lãnh của ngân hàng là hai vấn đề có liên quan nhưng không hoàn toàn đồng nhất.
Chủ đầu tư có quyền bảo vệ và thu hồi khoản vốn tạm ứng theo hợp đồng, nhưng khi gọi bảo lãnh phải bảo đảm yêu cầu nằm đúng trong phạm vi cam kết của tổ chức tín dụng phát hành bảo lãnh.
Căn cứ tham khảo: Quyết định số 1040/QĐ-BXD về mẫu hợp đồng xây dựng; Nghị định số 254/2025/NĐ-CP về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công.
Viết bình luận